Xuất bản thông tin

null Kết quả chất lượng nước phục vụ nuôi trồng thủy sản Đợt 14, ngày 16-31/10/2021

Chi tiết bài viết Tin tức

Kết quả chất lượng nước phục vụ nuôi trồng thủy sản Đợt 14, ngày 16-31/10/2021

Đang trong mùa lũ, cũng như thường xuyên xuất hiện mưa bảo, nguồn nước cấp ở các tuyến sông kênh cấp có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu cơ. Vì vậy, việc cấp nước vào ao nuôi, người nuôi cần phải thường xuyên chú ý việc quản lý nguồn nước ao nuôi, chủ động duy trì kế hoạch quản lý sức khỏe, tăng cường giám sát chặt chẽ hoạt động của thuỷ sản nuôi để chủ động triển khai các biện pháp xử lý khi có tình huống bất thường về môi trường và dịch bệnh.

Cụ thể cảnh báo đối với các tuyến kênh trên địa bàn huyện, thị, thành phố:

- Chỉ tiêu Oxy hòa tan (DO) thấp hơn từ 0.5 – 2 mg/L so với quy chuẩn tham chiếu ở các kênh, sông cấp thuộc Kênh SaRài (H.Tân Hồng); kênh Phèn, Kênh An Bình, kênh Tân Công Sính 1 (H.Tam Nông); Huyện Cao Lãnh (trừ kênh Nguyễn Văn Tiếp – xã Phong Mỹ); Huyện Tháp Mười; Sông Hậu - Định Hòa (H.Lai Vung) và Sông Tiền – xã Tân Khánh Đông (Tp.Sa Đéc). Không biến động so với đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu H2S vượt cao ở các kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng, Kênh SaRài (H.Tân Hồng); Sông Cái Vừng – xã Phú Thuận A (H.Hồng Ngự); kênh Tân Công Sính 1, kênh Kháng Chiến (H.Tam Nông); Sông Cái Nhỏ, Rạch Bà Mụ, kênh Đường Thét, kênh Nguyễn Văn Tiếp – xã Phong Mỹ (H.Cao Lãnh); sông Hậu – xã Định An (H.Lấp Vò); Sông Vàm Cái Sơn (H.Lai Vung); Sông Tiền – xã Tân Thuận Tây (Tp.Cao Lãnh); Sông Tiền – xã An Hiệp (H.Châu Thành), dao động từ 0.058 - 0.135 mg/L. Giảm so với đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu N-NO2- vượt cao ở các kênh cấp thuộc huyện Tân Hồng; huyện Tháp Mười;  Sông Cái Vừng – xã Phú Thuận A, sông Tiền - xã Long Thuận (H.Hồng Ngự); Sông Sở Thượng – Phường An Lạc (Tp.Hồng Ngự); Kênh Tân Công Sính 1 (H.Tam Nông); Kênh Đường Thét, Kênh K.6, kênh Hội Đồng Tường (H.Cao Lãnh), dao động từ 0.051 – 0.159 mg/L. Tăng so với đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu P-PO43- vượt cao ở các kênh cấp thuộc huyện Tân Hồng; huyện Tháp Mười; Kênh Long An (Tp.Hồng Ngự); Kênh Tân Công Sính 1, kênh Phú Thành 1 (H.Tam Nông); Kênh K.6, kênh Hội Đồng Tường (H.Cao Lãnh), dao động từ 0.11 – 0.5 mg/L. Tăng so với đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu TSS vượt cao ở các kênh cấp thuộc huyện Tân Hồng; huyện Tháp Mười; Sông Cái Vừng – Phú Thuận A (H.Hồng Ngự); Kênh Ba Ánh (Tp.Hồng Ngự); Sông Tiền – Ấp Nam - xã Tân Thạnh (H.Thanh Bình); Kênh Kháng Chiến (H.Tam Nông); Rạch Bà Mụ, Sông Cần Lố, kênh K.6 (H.Cao Lãnh); Sông Hậu – xã Định An (H.Lấp Vò); Sông Tiền – Tân Thuận Tây (Tp.Cao Lãnh), dao động từ 31.3 – 88.3mg/L. Giảm so với đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu COD vượt cao nhất ở các kênh cấp thuộc huyện Tân Hồng; huyện Tháp Mười; huyện Lấp Vò; Rạch Bà Mụ, kênh Đường Thét, kênh K.6, kênh Hội Đồng Tường (H.Cao Lãnh), dao động từ 52 – 107 mg/L. Giảm so với đợt quan trắc trước.

- Chỉ tiêu N-NH4+ vượt cao ở các kênh cấp thuộc huyện Tháp Mười; kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng, kênh Trung Ương, kênh SaRài (H.Tân Hồng); Sông Sở Thượng – Phường An Lạc, Sông Sở Thượng – xã Tân Hội (Tp.Hồng Ngự); Kênh Tân Công Sính 1 (H.Tam Nông); Kênh Đường Thét, kênh K.6, kênh Hội Đồng Tường (H.Cao Lãnh); Kênh Bảy Thước; Sông Hậu – xã Định Yên (H.Lấp Vò), dao động từ 0.31 - 0.92 mg/L. Tăng so với đợt quan trắc trước.

- Xuất hiện vi khuẩn Aeromonas tổng số và Coliform vượt giá trị giới hạn ở tất cả các điểm quan trắc ở các vùng nuôi cá bè.

- Xuất hiện mầm bệnh gây bệnh xuất huyết Aeromonas hydrophila ở tất cả các điểm quan trắc ở các vùng sản xuất giống và nuôi cá tra tập trung.

- Độ mặn nguồn nước tại sông Tiền (H.Châu Thành) và sông Hậu (H.Lai Vung) có độ mặn 0.04‰, nằm trong giới hạn thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của động vật thủy sản nước ngọt.

- Các tuyến kênh huyện Tam Nông có độ mặn dao động 0.03 – 0.07‰, đều nằm trong giới hạn thích hợp của nước ngọt.

            - Không xuất hiện dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật ở tất cả các điểm quan trắc của vùng nuôi cá tra và tôm càng xanh tập trung trên địa bàn Tỉnh.

Đặc biệt chú ý chất lượng nguồn nước đối với tuyến kênh cấp thuộc H.Tân Hồng, H.Tam Nông, H.Tháp Mười, H. Cao Lãnh, H.Lai Vung đa số các chỉ tiêu kiểm tra đều vượt giá trị giới hạn quy chuẩn, do đó chất lượng nguồn nước chưa được đảm bảo nên khi sử dụng nguồn nước cấp cần phải theo dõi và có biện pháp xử lý nhằm cải thiện chất lượng nước.

* Khuyến cáo

- Phải thường xuyên chú ý việc quản lý nguồn nước ao nuôi, chủ động duy trì kế hoạch quản lý sức khỏe, tăng cường giám sát chặt chẽ hoạt động của thuỷ sản nuôi để chủ động triển khai các biện pháp xử lý khi có tình huống bất thường về môi trường và dịch bệnh do nhiệt độ môi trường giảm thấp và chênh lệch nhiều.

- Cần xử lý nước trước khi cấp vào ao nuôi, định kỳ bổ sung men tiêu hóa, vitamin, khoáng chất...  nhất là vitamin C và Beta glucan vào khẩu phần ăn hàng ngày để tăng sức đề kháng.

   - Đối với vùng nuôi tôm tập trung cần thường xuyên kiểm tra độ kiềm và kết hợp bón vôi hay Dolomite để giữ môi trường nước nuôi ổn định và thuận lợi cho tôm phát triển tốt.

   - Đối với những khu vực nuôi lồng/bè tập trung cần tăng cường thường xuyên kiểm tra, vệ sinh lồng/bè, bố trí lồng/bè có khoảng cách phù hợp để tạo dòng chảy thông thoáng nhằm hạn chế cá chết do thiếu oxy cục bộ. Sử dụng vôi, muối treo đầu bè hoặc khu vực cho ăn để khử trùng và phòng bệnh cho cá. Đồng thời thực hiện tốt QCVN 02-22:2015/BNNPTNT. Chú ý các điểm có sự xuất hiện của vi khuẩn, virus gây bệnh bằng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

- Các vùng nuôi/cơ sở nuôi cá tra thương phẩm xuất khẩu cần thực hiện QCVN 02-20:2014/BNNPTNT, Quyết định số 07/2019/QĐ-UBND ngày 20/3/2019 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp về việc ban hành quy định về bảo vệ môi trường đối với hoạt động sản xuất, chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp./.

Tham chiếu:

- QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột A1: pH (6-8,5), NO2- (≤ 0,05 mg/L), NH4+(≤ 0,3 mg/L), COD (≤ 10 mg/L), TSS (≤ 20 mg/L), PO43- (≤ 0,1 mg/L). 

- QCVN 02-22:2015/BNNPTNT: Oxy (≥ 4 mg/L).

- QCVN 02-20:2014/BNNPTNT: H2S (≤ 0,05 mg/L)

Chi tiết mời xem Báo cáo số: 2153/BC-CNTYTS

CNTYTS